H1
Quang cao giua trang

Điều trị hợp lý

Thứ tư - 30/11/2011 15:45
Điều trị hợp lý Chỉ dùng thuốc khi thật cần và trong mỗi trường hợp, thầy thuốc phải cân nhắc lợi hại của thuốc đối với người bệnh
Chuyên mục: Đại cương
Chuyên mục: Đại cương
Điều trị hợp lý
Điều trị hợp lý Chỉ dùng thuốc khi thật cần và trong mỗi trường hợp, thầy thuốc phải cân nhắc lợi hại của thuốc đối với người bệnh. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (1994), để điều trị hợp lý, thầy thuốc cần phải thực hiện những điểm sau:
1. Xác định được vấn đề sức khoẻ mà người bệnh đang vướng mắc, nói một cách khác, phải chẩn đoán đúng, dựa vào tổng hợp các thông tin thu thập được từ lý do đi khám, bệnh sử chi tiết, thăm khám thực thể, xét nghiệm cận lâm sàng, X - quang và các thăm dò khác nếu cần.
2. Xác định rõ được mục tiêu điều trị, nghĩa là cần phải giải quyết gì cho người bệnh, dựa vào sinh lý bệnh đã thực sự gây ra bệnh cảnh lâm sàng. Nhiều khi thầy thuốc phải chọn không phải một, mà là nhiều mục tiêu điều trị cho mỗi người bệnh.
3. Lựa chọn chiến lược điều trị: Chiến lược điều trị phải được người bệnh chấp nhận (nếu không, người bệnh dễ bỏ thuốc hoặc tự thay thuốc...).
Điều trị có thể không dùng thuốc và/hoặc dùng thuốc; cũng cần phải tính đến tổng chi phí cho mỗi cách điều trị. (a) Điều trị không dùng thuốc: Một điều rất quan trọng phải nhớ là nhiều khi không cần phải dùng thuốc mà vẫn chữa khỏi hoặc kiểm soát được bệnh. Trong một số bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường typ 2..., chỉ cần thay đổi lối sống, chế độ ăn, lý liệu pháp hoặc tập luyện, động viên tâm lý... cũng kiểm soát được một số trường hợp bệnh. Các biện pháp này cũng có tầm quan trọng như thuốc và cần được dặn dò, ghi rõ cụ thể trên đơn thuốc. (b) Điều trị bằng thuốc Chọn nhóm thuốc thích hợp Hai nguyên tắc cơ bản của điều trị hợp lý là hiểu biết về sinh lý bệnh học liên quan đến tình trạng lâm sàng của người bệnh cụ thể và dược lực học của nhóm thuốc được chọn. Chọn thuốc trong nhóm thuốc đó Quá trình chọn thuốc phải xét đến lợi ích/nguy cơ/chi phí, nghĩa là với từng chỉ định cụ thể, nên chọn thuốc nào cho lợi ích lâm sàng cao nhất (hiệu quả) mà tác dụng phụ ít nhất (an toàn). Nhiều thuốc được kê với liều "chuẩn", nhưng trong thực tế, liều đó có thể quá thấp hoặc quá cao, dẫn đến điều trị không kết quả hoặc gây ngộ độc (quá liều). Có nhiều lý do dẫn đến sự biến đổi đó, như bản thân công thức điều chế thuốc, thể trọng và tuổi, biến đổi trong hấp thu, phân bố, chuyển hóa và đào thải thuốc; biến đổi về dược lực học, bệnh tật, biến đổi về gen và môi trường. Liều "chuẩn" thường được nghiên cứu trên người tự nguyện trẻ tuổi, da trắng, khoẻ mạnh. Do đó cần phải chú ý, nếu người bệnh là:

Trẻ em, đặc biệt trẻ sơ sinh, đáp ứng với thuốc khác người lớn.

Cần đặc biệt thận trọng ở giai đoạn sơ sinh (30 ngày đầu, nhất là tuần đầu sau khi đẻ), liều lượng phải tính toán thật chính xác. ở thời kỳ này, nguy cơ ngộ độc thuốc tăng lên nhiều do thận lọc kém hiệu quả, các enzym tương đối thiếu hụt, tính nhạy cảm với thuốc của các cơ quan đích rất khác nhau và đặc biệt hệ thống khử độc chưa hoàn chỉnh gây đào thải chậm. Trong các chuyên luận đều có ghi liều dùng cho trẻ em hoặc khi có chống chỉ định. Nếu không ghi, có nghĩa là liều chưa được xác định cho trẻ em, nên khi dùng, thầy thuốc phải cân nhắc, thận trọng.

Người đang mang thai hoặc đang thời kỳ cho con bú:

Thuốc có thể gây hại cho thai nhi ở bất cứ thời điểm nào trong thời kỳ mang thai. Trong 3 tháng đầu, thuốc có thể gây dị tật (quái thai) và thời kỳ có nguy cơ cao nhất là từ tuần thứ ba đến tuần thứ mười của thai kỳ. Trong quý hai và quý ba của thai kỳ, thuốc có thể tác động đến sức lớn và phát triển các chức năng của thai nhi; ngay trước lúc thai đủ tháng hoặc trong thời kỳ chuyển dạ, thuốc có thể tác dụng xấu đến chuyển dạ hoặc đến đẻ sau khi sinh (Phụ lục 2 và 3). Nếu đang thời kỳ cho con bú, một số thuốc có thể gây hại cho trẻ, một số có thể không ảnh hưởng, nhưng một số thuốc có thể làm mất sữa (thí dụ bromocriptin) (Phụ lục 3).

Người cao tuổi cần được chăm sóc và quan tâm đặc biệt.

Một số thuốc có tỷ lệ lợi ích/tác hại thay đổi ở người cao tuổi, do đó cần phải thường xuyên đánh giá lại và loại bỏ những thuốc không tác dụng. Hệ thống thần kinh ở người cao tuổi thường tăng nhạy cảm với nhiều loại thuốc dùng thông thường, như thuốc giảm đau có thuốc phiện, benzodiazepin, thuốc chống loạn thần, chống Parkinson, do vậy các thuốc này phải dùng thận trọng. Một số cơ quan khác cũng dễ nhạy cảm với tác dụng của thuốc như chống tăng huyết áp và thuốc giảm đau không steroid. Nhưng ảnh hưởng quan trọng nhất của tuổi cao là giảm hệ số thanh thải của thận. Nhiều người bệnh cao tuổi thường bài tiết thuốc chậm và rất nhạy cảm với các thuốc độc cho thận. Chuyển hoá của một số thuốc có thể bị giảm. Những thay đổi về dược động học có thể làm tăng đáng kể nồng độ thuốc ở các mô ở người cao tuổi. Với người cao tuổi, người thầy thuốc trước hết bao giờ cũng phải tự hỏi thuốc định kê đơn có thực sự cần không? Chỉ nên kê một số thuốc đã biết rõ tác dụng, quen dùng cho người cao tuổi. Liều dùng thường phải giảm so với người trẻ và thường bắt đầu bằng 50% liều người lớn. Các thuốc trình bày trong quyển sách này đều đề cập đến liều người cao tuổi, nếu không ghi rõ có nghĩa là liều chưa được xác định, thầy thuốc khi dùng phải thận trọng.
Người có tổn thương thận (Phụ lục 4).
Người có tổn thương gan (Phụ lục 5).

Tương tác thuốc (Phụ lục 1):

Khi 2 hoặc nhiều thuốc dùng cùng một lúc có thể có tác dụng độc lập hoặc ảnh hưởng lẫn nhau. ảnh hưởng này (tương tác thuốc) có thể làm một thuốc tăng tác dụng hoặc đối kháng lại, hoặc cho một tác dụng khác. Có thể tương tác do dược lực hoặc do dược động học. Tương tác dược lực học thường có thể đoán trước được, dựa vào tính chất dược lý của thuốc và một tương tác xảy ra cho một thuốc có thể xảy ra cho một thuốc cùng họ. Còn tương tác dược động học khó đoán trước và một tương tác xảy ra cho một thuốc, không thể cho rằng sẽ xảy ra cho một thuốc khác cùng họ, trừ khi các đặc tính dược động đã biết tương tự nhau. Tuy nhiên, nhiều tương tác dược động chỉ tác động đến một số ít người bệnh và chỉ gây hậu quả nghiêm trọng cho một số ít người bệnh. Cần thận trọng khi phối hợp nhiều thuốc, đặc biệt đối với các thuốc có chỉ số điều trị thấp (thí dụ phenytoin) và đặc biệt ở người cao tuổi thường có chức năng thận và gan kém.

Tác dụng không mong muốn:

Cần nhớ thuốc nào cũng có ít nhiều phản ứng bất lợi. Không phải tất cả các tác dụng không mong muốn đó đều có thể ngăn chặn được, nhưng việc lựa chọn thuốc thích hợp có thể hạn chế được phần lớn những tác dụng bất lợi. Kiểm tra tính phù hợp của điều trị bằng thuốc đối với người bệnh: Thầy thuốc phải kiểm tra xem hoạt chất đã chọn, dạng thuốc, liều lượng và cách dùng, thời gian điều trị có phù hợp cho mỗi người bệnh không. Điều trị bằng thuốc phải đáp ứng nhu cầu của từng người bệnh.

Kê đơn:

Đơn thuốc là mối liên quan giữa thầy thuốc, dược sĩ và người bệnh, cho nên việc kê đơn rất quan trọng để điều trị thành công. Cung cấp thông tin, hướng dẫn và cảnh báo: Cần phải giải thích, ghi chú rõ ràng cho người bệnh.
Theo dõi điều trị:
Phải theo dõi để đánh giá kết quả, từ đó quyết định ngừng thuốc (nếu người bệnh khỏi) hoặc kê đơn lại, nếu cần. Bước này quan trọng để xây dựng kho dữ liệu thông tin về các tác dụng không mong muốn của thuốc.

Nguồn tin: www.nidqc.org.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Ngành Dược

Dược hay ngành dược là tên gọi chỉ chung về một ngành nghề y tế trong đó chuyên về bào chế, sản xuất các loại thuốc (dược phẩm) cũng như thực hiện việc khám chữa bệnh, phân phối thuốc. Người hành nghề trong ngành dược được gọi là dược sĩ. Ngành dược có liên hệ trực tiếp và mật thiết nhất đối với...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về NukeViet 4?

QC-Trai 2
Thống kê
  • Đang truy cập6
  • Hôm nay9,872
  • Tháng hiện tại126,264
  • Tổng lượt truy cập1,017,575
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây